Tiểu sử
Cuộc đời & Sự nghiệp
Bác Hồ với tuổi trẻ 
       Đảng Cộng Sản Việt Nam 
 Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
 

 NHỮNG THÀNH TỰU VẺ VANG CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

1. Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo và tổ chức các cuộc đấu tranh cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền - Cách mạng Tháng Tám (1945)

Ngay khi vừa mới ra đời, với đường lối cách mạng cứu nước đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy tụ đoàn kết xung quanh mình tất cả các giai cấp và các tầng lớp yêu nước, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Qua 15 năm lãnh đạo cách mạng, trải qua đấu tranh gian khổ hy sinh, Đảng cộng sản Việt Nam từng bước vận động, giáo dục quần chúng, qua ba cao trào cách mạng lớn (1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945) như ba cuộc tổng diễn tập cách mạng, với khí thế cách mạng vĩ đại của quần chúng, nắm chắc thời cơ lịch sử, với một nghệ thuật lãnh đạo và tổ chức khởi nghĩa tài tình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công trọn vẹn.

Chỉ trong thời gian ngắn, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của chế độ thực dân và lật nhào chế độ phong kiến tay sai thối nát tồn tại trong gần một thế kỷ.

Ngày 2 - 9 - 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước của dân, do dân và vì dân. Dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đánh giá ý nghĩa lịch sử của giai đoạn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc" (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.159)

2.  Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng và tiến hành thắng lợi Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945 - 1954.

Ngay khi vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã bị các nước đế quốc và các thế lực phản động trong nước và quốc tế câu kết với nhau chống phá quyết liệt. Chưa bao giờ trên đất nước Việt Nam có nhiều quân đội nước ngoài chiếm đóng như vậy. Trong khi đó, lực lượng mọi mặt của Nhà nước Việt Nam còn rất non yếu: nạn đói đang hoành hành, vận mệnh của đất nước như "ngàn cân treo sợi tóc". Song, Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời đề ra những chủ trương và quyết sách đúng đắn, toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng. Đối với các thế lực thù địch, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sách lược mềm dẻo, lợi dụng mâu thuẫn, phân hoá chúng, giành thời gian củng cố lực lượng chuẩn bị kháng chiến. Với đường lối chính sách sáng suốt, vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa mềm dẻo về sách lược, Đảng Cộng sản Việt Nam đã động viên được sức mạnh đoàn kết toàn dân, triệu người như một, vượt qua muôn vàn khó khăn, nguy hiểm tưởng như không qua được, củng cố, giữ vững chính quyền đưa cách mạng vượt qua tình thế hiểm nghèo, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp.

Bất chấp nguyện vọng của nhân dân Việt Nam và mặc dù Chính phủ Việt Nam đã nhân nhượng, nhưng thực dân Pháp vẫn không từ bỏ dã tâm xâm lược Việt Nam lần nữa. Chính phủ Việt Nam càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới.

Lịch sử đã đặt dân tộc Việt Nam trước một thử thách gay gắt mới, phải đứng lên bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Đêm 19 - 12 - 1946, Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng cộng sản Việt Nam và Hồ Chủ tịch, nhân dân cả nước đã quyết tâm "thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ"... Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử (5 - 1954) mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa của thế kỷ XX, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi, đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn không tránh khỏi của chủ nghĩa thực dân.

Đánh giá ý nghĩa thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Lần đầu tiên trong lịch sử một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là thăng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hoà bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội" (Hồ Chí Minh: Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội 1970, tr. 213 - 214).

Thắng lợi đó làm sáng tỏ một chân lý: "Trong điều kiện thế giới ngày nay, một dân tộc dù nhỏ yếu, nhưng một khi đã đoàn kết đứng lên kiên quyết đấu tranh dưới sự lãnh đạo của chính đảng Mác - Lênin để giành độc lập và dân chủ thì có đầy đủ lực lượng để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược ... Thắng lợi đó cũng chứng tỏ rằng chỉ có sự lãnh đạo đúng đắn của giai cấp công nhân mà Đảng ta là đại biểu, chỉ có đường lối cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin mới có thể tạo điều kiện cho nhân dân ta đánh bại quân thù giành tự do độc lập" (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội III: tập 1, 1960, tr. 23.)

3.  Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược - đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược (1954 - 1975)

Với thắng lợi của Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới với đặc điểm là đất nước tạm thời chia làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội đối lập nhau. Con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam như Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược:

Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa vững mạnh của cách mạng cả nước.

Hai là, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, chống đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà.

Tuy mỗi miền thực hiện một chiến lược khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vị trí quan trọng có tác dụng trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Nhân dân cả nước Việt Nam tiếp tục Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", quyết "đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào". Trong cuộc đọ sức quyết liệt này, đế quốc Mỹ với một lực lượng quân sự và phương tiện chiến tranh khổng lồ hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng Việt Nam. Song, trải qua 21 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu kiên cường, lại được sự đồng tình hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, đã lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ ở miền Nam. Bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, với thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Nhìn lại tính chất và quy mô của cuộc chiến tranh, thấy hết quy mô lực lượng mà kẻ địch đã sử dụng, những ý đồ mà chúng đã thực thi, nhớ lại những tình huống cực kỳ phức tạp mà cách mạng Việt Nam đã vượt qua, nhân dân Việt Nam càng thấy rõ tầm vóc vĩ đại và ý nghĩa lớn lao của Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. "Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc". (Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quóc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, 1976, tr.5.)

Thắng lợi oanh liệt Mùa xuân 1975 đã kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt ách thống trị tàn bạo hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước Việt Nam; hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước; bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, mở ra thời kỳ mới - thời kỳ độc lập thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.

4. Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (1975 - 1996)

Bước vào thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cách mạng Việt Nam có những thuận lợi song cũng không ít khó khăn mà khó khăn lớn nhất là nền kinh tế Việt Nam chủ yếu là sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp, hậu quả chiến tranh để lại nặng nề. Chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động luôn tìm mọi cách phá hoại. Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã và đang trải qua nhiều diễn biến phức tạp; chủ nghĩa xã hội thế giới gặp những khó khăn, thử thách lớn, lâm vào khủng hoảng, thoái trào, đặc biệt từ khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Quá trình đó đã tác động, ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, trong 10 năm đầu (1975 - 1985), cách mạng Việt Nam đã vượt qua những khó khăn trở ngại, thu được những thành tựu nhất định. Nhân dân Việt Nam đã nhanh chóng hoàn thành việc thống nhất đất nước về mọi mặt, đánh thắng các cuộc chiến tranh biên giới bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội nhân dân Việt Nam đã có những cố gắng lớn, đáng chú ý là công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, bước đầu bình ổn sản xuất và đời sống nhân dân. Tuy nhiên, những thành tựu về kinh tế - xã hội còn thấp so với yêu cầu kế hoạch đề ra và công sức bỏ ra, nền kinh tế có mặt mất cân đối nghiêm trọng, tỷ lệ lạm phát cao quá mức, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng gay gắt.

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (12 - 1986) đã nghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạo của mình, khẳng định những mặt làm được, phân tích rõ những sai lầm, khuyết điểm, đặc biệt là khuyết điểm chủ quan, duy ý chí trong lãnh đạo kinh tế, đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 và nhiệm vụ kinh tế - xã hội 5 năm 1991 - 1995, cụ thể hoá hơn nữa đường lối đổi mới ở Việt Nam. Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, nhân dân Việt Nam vượt qua một giai đoạn thử gay go. Trong hoàn cảnh phức tạp, khó khăn, cách mạng Việt Nam không những đứng vững mà còn vươn lên đạt những thắng lợi nổi bật trên nhiều mặt.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam (22 - 6 đến 01 - 7 - 1996) đã nhận định:

"Công cuộc đổi mới trong 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991 - 1995 đã hoàn thành về cơ bản.

Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc.

Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn" .

Nhìn lại chặng đường phát triển của cách mạng Việt Nam trong gần bẩy thập kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi, thành tựu rất vẻ vang. Tuy nhiên, Đảng cộng sản Việt Nam cũng còn có những yếu kém, có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm. Điều quan trọng là Đảng cộng sản Việt Nam sớm phát hiện ra những sai lầm, khuyết điểm của mình, đề ra những biện pháp sửa chữa đúng đắn, kịp thời. Đảng cộng sản Việt Nam đã công khai tự phê bình, nhận khuyết điểm trước nhân dân, quyết tâm sửa chữa và sửa chữa có kết quả. Vì vậy, Đảng vẫn được nhân dân tin cậy; thừa nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong chính trị; người lãnh đạo chân chính duy nhất của cả dân tộc. Thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ: ở Việt Nam, ngoài Đảng Cộng sản không lực lượng nào có đủ sức lãnh đạo cách mạng.

(Nguồn: lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,http://www.cpv.org.vn/dangcongsan/lichsu/tomtat/)


 Top

Thiết kế bởi Trần Quốc Đẳng, TTTH Bưu Điện Cà Mau

Home